BẢN TIN THUẾ THÁNG 3/2026
- Công văn 5700/HYE-QLDN2 ngày 17 tháng 12 năm 2025 của Thuế tỉnh Hưng Yên về chính sách ưu đãi về thuế đối với dự án mới của Công ty
Trường hợp Công ty thực hiện dự án đầu tư mới tại khu công nghiệp được thành lập theo quy định của Chính phủ thì Công ty căn cứ tình hình thực tế của dự án đầu tư mới và quy định tại Điều 19 Thông tư
78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014, Điều 6 Thông tư 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014, khoản 2 Điều 12 Thông tư 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính nêu trên để xác định ưu đãi về thuế TNDN.
Trong thời gian đang được hưởng ưu đãi thuế TNDN nếu Công ty thực hiện nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh thì Công ty phải tính riêng thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh được hưởng ưu đãi thuế TNDN (bao gồm mức thuế suất ưu đãi, mức miễn thuế, giảm thuế) và thu nhập từ hoạt động kinh doanh không được hưởng ưu đãi thuế để kê khai nộp thuế riêng.
Trường hợp trong kỳ tính thuế, Công ty không tính riêng thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh được hưởng ưu đãi thuế và thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh không được hưởng ưu đãi thuế thì phần thu nhập của hoạt động sản xuất kinh doanh ưu đãi thuế xác định bằng (=) tổng thu nhập tính thuế nhân (x) với tỷ lệ phần trăm (%) doanh thu hoặc chi phí được trừ của hoạt động sản xuất kinh doanh ưu đãi thuế so với tổng doanh thu hoặc tổng chi phí được trừ của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế.
Trường hợp có khoản doanh thu hoặc chi phí được trừ không thể hạch toán riêng được thì khoản doanh thu hoặc chi phí được trừ đó xác định theo tỷ lệ giữa doanh thu hoặc chi phí được trừ của hoạt động sản xuất, kinh doanh hưởng ưu đãi thuế trên tổng doanh thu hoặc chi phí được trừ của doanh nghiệp.
Khi cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thuế TNDN số 67/2025/QH15 ngày 14/06/2025 đề nghị Công ty thực hiện theo đúng quy định tại Luật Thuế TNDN số 67/2025/QH15 ngày 14/06/2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Công văn 1046/DON-QLDN1 ngày 20 tháng 01 năm 2026 của Thuế tỉnh Đồng Nai về giải đáp chính sách thuế đối với việc thanh lý/ chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất và quyền thuê đất
Trường hợp Công ty đã thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê nay thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản trên đất tại khu công nghiệp đáp ứng điều kiện của pháp luật quy định tại Điều 39 đến Điều 43 Luật kinh doanh bất động sản thì được xác định là hoạt động chuyển nhượng bất động sản. Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản thuộc thu nhập chịu thuế theo quy định tại Điều 3 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 ngày 14/06/2025.
Trường hợp hoạt động sản xuất, kinh doanh bị lỗ thì công ty được bù trừ số lỗ vào thu nhập chịu thuế của các hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập do doanh nghiệp tự lựa chọn (trừ thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư không bù trừ với thu nhập của hoạt động sản xuất, kinh doanh đang được hưởng ưu đãi thuế). Phần thu nhập còn lại sau khi bù trừ áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của hoạt động sản xuất, kinh doanh còn thu nhập theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 ngày 14/06/2025.
Về việc xác định các khoản chi phí hợp lệ được tính vào chi phí của hoạt động chuyển nhượng thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 17 Nghị định số 320/2025/NĐ-CP ngày 15/12/2025.
Mức thuế suất thuế GTGT đối với hoạt động chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất và quyền sử dụng đất áp dụng thuế suất 10% theo quy định tại khoản 3 Điều 9 Luật thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 ngày 26/11/2024.
Trường hợp công ty thực hiện kê khai thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) theo phương pháp doanh thu – chi phí có hoạt động chuyển nhượng bất động sản thì công ty không phải nộp tờ khai thuế TNDN từ chuyển nhượng bất động sản theo từng lần phát sinh ( mẫu 02/TNDN) mà chỉ phải kê khai tờ khai Quyết toán thuế TNDN (mẫu 03/TNDN) và tạm nộp thuế TNDN theo quý theo quy định tại điểm đ, điểm e khoản 4 và điểm b khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020.
- Công văn 662/DTH-QLDN1 ngày 30 tháng 01 năm 2026 của Thuế tỉnh Đồng Tháp về việc sử dụng phế liệu từ sản xuất hàng nhập sản xuất xuất khẩu để tái chế
Công ty là doanh nghiệp nội địa ký hợp đồng gia công với đối tác nước ngoài, thực hiện nhập khẩu nguyên liệu theo loại hình sản xuất xuất khẩu (E31) để sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Trong quá trình sản xuất có phát sinh nguyên liệu dư thừa, phế liệu, Công ty không thực hiện xuất trả hoặc tiêu hủy mà tận dụng để tái chế, sử dụng làm nguyên liệu đầu vào để sản xuất sản phẩm khác tiêu thụ trong nội địa. Đối với trường hợp này được xác định là thay đổi mục đích sử dụng nguyên liệu nhập khẩu từ mục đích sản xuất hàng xuất khẩu sang sử dụng để sản xuất hàng hóa tiêu thụ nội địa.
3.1 Về thủ tục hải quan
Theo quy định của pháp luật về hải quan và pháp luật về quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, nguyên liệu nhập khẩu theo loại hình sản xuất xuất khẩu về nguyên tắc phải được sử dụng để sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Trường hợp doanh nghiệp không thực hiện xuất trả hoặc tiêu hủy nguyên liệu dư thừa, phế liệu phát sinh, mà sử dụng số nguyên liệu, phế liệu này để tái chế, sản xuất sản phẩm tiêu thụ nội địa, thì được xác định là trường hợp thay đổi mục đích sử dụng nguyên liệu nhập khẩu và phải thực hiện thủ tục hải quan theo quy định tại khoản 5 Điều 25 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP (được sửa đổi bởi điểm d khoản 12 Điều 1 Nghị định số 167/2025/NĐ-CP) và điểm a khoản 2 Điều 21 Thông tư số 38/2015/TT-BTC (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 10 Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC).
3.2 Về chính sách thuế GTGT
Sau khi Công ty hoàn thành thủ tục hải quan đối với nguyên liệu, phế liệu thay đổi mục đích sử dụng theo quy định của pháp luật về hải quan, việc sử dụng số nguyên liệu, phế liệu này để sản xuất sản phẩm tiêu thụ trong nội địa được xác định là hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo quy định tại Điều 3 Luật Thuế GTGT năm 2024.
Thuế GTGT đầu vào của các chi phí phát sinh phục vụ cho hoạt động sản xuất sản phẩm tiêu thụ nội địa được khấu trừ nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện khấu trừ thuế GTGT theo quy định Điều 14 Luật Thuế GTGT năm 2024; Điều 23, Điều 25, Điều 26 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP.
- Công văn 1064/QNG-QLDN1 ngày 04 tháng 02 năm 2026 của Thuế tỉnh Quảng Ngãi hướng dẫn áp dụng tỷ giá đối với hàng hóa xuất khẩu
Khi phát sinh doanh thu hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, Công ty căn cứ hướng dẫn về xác định tỷ giá giao dịch thực tế được quy định tại Phụ lục II – Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp ban hành kèm theo Thông tư 99/2025/TT-BTC ngày 27/10/2025 của Bộ Tài chính để xác định tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ xuất khẩu hàng hóa, cung cấp dịch vụ để xác định doanh thu xuất khẩu, lập hóa đơn và kê khai thuế GTGT đối với doanh thu xuất khẩu đúng theo quy định.
- Công văn 654/TNI-QLDN1 ngày 04 tháng 02 năm 2026 của Thuế tỉnh Tây Ninh về việc vướng mắc chính sách thuế TNDN liên quan đến chi phí được trừ khi thanh toán tiền lương
Trường hợp người lao động của Công ty không có tài khoản ngân hàng và thực hiện ủy quyền hợp pháp cho cá nhân khác nhận thay tiền lương, Công ty được phép chi trả vào tài khoản ngân hàng của người
được ủy quyền. Khoản chi này được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN nếu đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:
– Về hồ sơ lao động: Có đầy đủ Hợp đồng lao động, Bảng chấm công, Bảng tính lương thể hiện khoản chi thực tế phát sinh phục vụ hoạt động sảnxuất, kinh doanh.
– Về tính pháp lý của sự ủy quyền: Có Hợp đồng ủy quyền/Giấy ủy quyền được lập theo đúng quy định của pháp luật dân sự (phải được công chứng, chứng thực tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền), trong đó nêu rõ nội dung ủy quyền nhận lương, thông tin nhân thân của người ủy quyền và người được ủy quyền, thông tin tài khoản ngân hàng nhận thay.
– Về chứng từ thanh toán: Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt (đối với khoản chi từ 05 triệu đồng trở lên) chuyển vào tài khoản của người được ủy quyền, nội dung chứng từ (Ủy nhiệm chi) ghi rõ nội dung thanh toán lương cho người lao động theo văn bản ủy quyền tương ứng.
- Công văn 873/CT-CS ngày 05 tháng 02 năm 2026 của Cục Thuế về chính sách thuế giá trị gia tăng
Điều kiện áp dụng mức thuế suất thuế giá trị gia tăng 0% đối với hàng hóa xuất khẩu phải đáp ứng điều kiện là hàng hóa từ Việt Nam bán cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và được tiêu dùng ở ngoài Việt Nam.
Trường hợp doanh nghiệp nội địa ký hợp đồng bán hàng hóa cho thương nhân nước ngoài và giao hàng tại kho ngoại quan nhưng chưa xác định được điều kiện tiêu dùng ở ngoài Việt Nam thì chưa có căn cứ áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng 0% theo quy định.
Trường hợp doanh nghiệp nội địa ký hợp đồng bán hàng hoá cho thương nhân nước ngoài và chỉ định giao hàng cho bên thứ 3 là doanh nghiệp Việt Nam có điểm giao hàng thông qua kho ngoại quan thì Bộ Tài chính đã có ý kiến tại công văn số 1872/BTC-CT “Trường hợp doanh nghiệp nội địa bán hàng hóa cho thương nhân nước ngoài có hiện diện tại Việt Nam và được chỉ định giao hàng cho bên thứ ba là doanh nghiệp Việt Nam thông qua kho ngoại quan không đáp ứng được điều kiện hàng hóa xuất khẩu bán cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và tiêu dùng ở ngoài Việt Nam, hàng hóa bán cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan và tiêu dùng trong khu phi thuế quan nên không thuộc trường hợp hàng hóa xuất khẩu áp dụng thuế suất 0% theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Thông tư số 219/2013/TT-BTC”.
- Công văn 1067/CT-CS ngày 12 tháng 02 năm 2026 của Cục Thuế về trường hợp gia hạn thời hạn hoạt động của dự án phát triển phần mềm
Đối với dự án đầu tư mới của Công đáp ứng điều kiện về lĩnh vực ưu đãi đầu tư thì được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo thời gian được ghi trong giấy chứng nhận đầu tư lần đầu (05 năm). Đối với thời gian được gia hạn theo giấy chứng nhận đầu tư điều chỉnh thì không được hưởng ưu đãi thuế đối với thời gian gia hạn dự án đầu tư.
- Công văn 33/TMĐT-QLT3 ngày 06 tháng 03 năm 2026 của Chi Cục thuế TMĐT về thuế giá trị gia tăng đối với các dịch vụ thực hiện tại nước ngoài khi cung cấp dịch vụ logistics cho các khách hàng là doanh nghiệp Việt Nam
– Trường hợp Công ty ký hợp đồng với khách hàng Việt Nam để cung cấp dịch vụ logistics được thực hiện (diễn ra) tại nước ngoài không thuộc diện điều chỉnh của pháp luật thuế GTGT.
– Trường hợp Công ty cung cấp dịch vụ vận tải hàng hóa theo chặng quốc tế từ Việt Nam ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài đến Việt Nam, hoặc cả điểm đi và đến ở nước ngoài, bao gồm cả chặng vận tải nội địa thì vận tải quốc tế bao gồm cả chặng nội địa, thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% nếu đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 18 và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 17 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025.
– Các dịch vụ khác liên quan đến dịch vụ logistics thực hiện tại Việt Nam thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế GTGT 10% theo quy định tại khoản 3 Điều 9 Luật Thuế GTGT.
- Công văn 1706/CT-CS ngày 24 tháng 03 năm 2026 của Cục Thuế về thuế giá trị gia tăng và hóa đơn
Trước thời điểm 1/7/2025, trường hợp doanh nghiệp được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ) cấp giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động, ký hợp đồng trực tiếp với người lao động nhưng không trực tiếp sử dụng người lao động mà cho các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, cá nhân khác thuê lại lao động và hưởng phí dịch vụ cho thuê lại lao động; người lao động làm việc tại đơn vị thuê lại, chịu sự quản lý và điều hành của bên thuê lại lao động, được hưởng lương và các chế độ khác theo quy chế của bên thuê lại lao động; hàng tháng bên thuê lại lao động chuyển tiền cho doanh nghiệp cho thuê lại lao động để thanh toán tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp, phụ cấp và trích, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn cho người lao động, thì khoản tiền mà bên thuê lại lao động chuyển cho doanh nghiệp cho thuê lại lao động để thanh toán tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp, phụ cấp và trích, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn cho người lao động có tính chất thu hộ, chi hộ không phải là doanh thu của doanh nghiệp cho thuê lại lao động được hưởng, thuộc diện không phải kê khai, nộp thuế GTGT theo quy định điểm d khoản 7 Điều 5 Thông tư số 219/2013/TTBTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính.
Trường hợp nếu không đáp ứng quy định về hoạt động cho thuê lại lao động theo pháp luật về lao động hoặc doanh nghiệp cho thuê lại lao động không tự xác định riêng từng loại dịch vụ trong đó có khoản thu hộ, chi hộ để áp dụng mức thuế suất GTGT quy định tương ứng thì phải tính và nộp thuế GTGT theo mức thuế suất GTGT cao nhất của các dịch vụ này theo quy định tại Điều 11 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính.
Trường hợp doanh nghiệp cho thuê lao động đã xuất hóa đơn và kê khai nộp thuế GTGT với mức thuế suất cao nhất thì thực hiện theo hướng dẫn tại điểm b khoản 5 Điều 12 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 nêu trên.
- Công văn 1871/QNG-QLDN1 ngày 25 tháng 03 năm 2026 của Thuế tỉnh Quảng Ngãi hướng dẫn về thuế suất thuế TNDN
Theo quy định của pháp luật, tổng doanh thu làm căn cứ xác định doanh nghiệp thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế TNDN 15% và 17% là tổng doanh thu từ hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ (không bao gồm các khoản giảm trừ doanh thu), doanh thu từ hoạt động tài chính và thu nhập khác trên Phụ lục kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh kèm theo tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp
của kỳ tính thuế năm trước liền kề.
Do đó, đối với doanh nghiệp thành lập trước năm 2024 thì căn cứ xác định doanh nghiệp thuộc đối tượng áp dụng thuế suất 15% và 17% của kỳ tính thuế TNDN năm 2025 là tổng doanh thu năm 2024. Trường hợp tổng doanh thu năm 2024 từ trên 03 tỷ đồng đến không quá 50 tỷ đồng thì thuế suất thuế TNDN được áp dụng năm 2025 đối với phần doanh thu của hoạt động không được ưu đãi thuế TNDN là 17% (trừ các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 10 Luật Thuế TNDN số 67/2025/QH15 và khoản 5 Điều 11 Nghi định số 320/2025/NĐ-CP).
- Công văn 1376/TCS10-QLDN ngày 31 tháng 03 năm 2026 của Thuế cơ sở 10 tỉnh Vĩnh Long về việc gộp Báo cáo tài chính
Từ kỳ tính thuế TNDN năm 2025 trở đi không còn việc gộp kỳ tính thuế vào năm tiếp theo đối với trường hợp kỳ tính thuế năm đầu tiên của doanh nghiệp mới thành lập (kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đầu tư) và kỳ tính thuế năm cuối cùng (đối với doanh nghiệp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, phá sản) có thời gian ngắn hơn 03 tháng để hình thành một kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp (như quy định tại khoản 3 Điều 3 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/06/2024 của Bộ Tài chính trước đây).
Các doanh nghiệp mới thành lập năm 2025 hoặc các doanh nghiệp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, phá sản có thời gian ngắn hơn 03 tháng không được gộp kỳ tính thuế TNDN năm 2025 với kỳ tính thuế TNDN năm tiếp theo để hình thành một kỳ tính thuế TNDN.



